ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Kỷ niệm 90 năm Cuộc đấu tranh Lưu huyết tại Ngục Kon Tum

(12/12/1931-12/12/2021)

—–

  1. SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ LAO KON TUM (NGỤC KON TUM)

Nhà lao Kon Tum còn gọi là Ngục Kon Tum, sau này còn gọi là Lao trong là nhà lao cấp tỉnh, được thực dân Pháp xây dựng từ năm 1915-1917, nằm ở phía tây thị xã Kon Tum, gần sông Đăk Bla. Nhà lao Kon Tum lúc đầu chỉ giam giữ những người địa phương mà thực dân Pháp ghép vào “tội” chống đối hoặc vi phạm “pháp luật” của chúng. Đến tháng 3-1931, để phục vụ cho công cuộc đàn áp những người cộng sản, thực dân Pháp tiếp tục xây thêm một nhà lao thứ hai (còn gọi là Lao ngoài) để phân biệt với nhà lao ban đầu.

Tại nơi đây, thời kỳ 1930-1931, thực dân Pháp đã biến nhà lao Kon Tum từ một nhà lao cấp tỉnh trở thành một trong những lò giết người tàn bạo tại Việt Nam. Từ khi thực dân Pháp đến xâm lược, với âm mưu chia để trị, nhằm thôn tính mảnh đất Kon Tum trong âm mưu lâu dài thôn tính Việt Nam, thì cái kết cấu của một xã hội Kon Tum vốn yên bình ấy đã bị phá vỡ. Một chính sách cai trị cực kỳ thâm độc, với những công cụ đi cùng là hệ thống nhà tù và bộ máy tay sai với những viên quan lại, cai đội, binh lính bị nhồi sọ một cách vô thức và tàn bạo được mọc lên. Nhiều cuộc càn quét, cướp bóc, giết chóc của thực dân Pháp trên mảnh đất Kon Tum liên tục diễn ra, và cũng là nhiều lần thực dân Pháp vấp phải sự kháng cự mãnh liệt và không chịu khuất phục, quy thuận của Nhân dân các dân tộc nơi đây.

  1. NGUYÊN NHÂN, DIỄN BIẾN VÀ KẾT QUẢ CUỘC ĐẤU TRANH LƯU HUYẾT TẠI NGỤC KON TUM
  2. Nguyên nhân

Cuối năm 1930, phong trào cách mạng trong nước bị chính quyền thực dân ra sức đàn áp khủng bố ác liệt, hàng loạt chiến sĩ cộng sản bị bắt và giam cầm ở nhiều nhà tù do thực dân Pháp lập ra ở khắp mọi miền đất nước, trong đó có Ngục Kon Tum. Tại Ngục Kon Tum những năm 1930-1933, thực dân Pháp đã giam cầm, đày ải trên 500 lượt tù chính trị phạm nhằm mục đích: Lợi dụng nơi rừng thiêng nước độc, dân cư thưa thớt để cách ly tư tưởng cộng sản của họ với các trung tâm đô thị và đồng bằng; giết dần, giết mòn những người tù cách mạng mà không sợ tai tiếng và dư luận lên án. Đồng thời, sử dụng triệt để sức lao động của tù nhân làm đường 14-con đường chiến lược quan trọng nối từ miền Đông Nam bộ qua Tây Nguyên đến Quảng Nam-Đà Nẵng, nhằm phục vụ cho công cuộc xâm lược và khai thác thuộc địa lần thứ II của chúng ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung.

Đoàn tù chính trị đầu tiên gồm 150 người từ nhà lao Vinh (Nghệ An) được đưa lên giam ở Ngục Kon Tum (tháng 12-1930) và sau đó, từ tháng 01-1931 đến tháng 4-1931, có ba đoàn tù chính trị cộng sản nữa từ nhà lao Vinh, Hà Tĩnh, Nha Trang lần lượt bị đày lên Kon Tum, nâng tổng số tù lên tới 295 người. Tất cả số tù chính trị này bị thực dân Pháp đưa ngay lên Đăk Pao (thuộc địa bàn huyện Đăk Glei hiện nay) để làm đường. Trên đường dài hàng trăm cây số, đoàn tù chính trị phải leo đèo, vượt suối, đi bộ nhiều ngày, mang nặng tư trang, dụng cụ, lại bị đòn liên miên của bọn lính. Người tù nào yếu đau nặng không đi nổi, chúng bắn chết dọc đường.

Thực dân Pháp đã thực hiện một cách triệt để cái gọi là lấy nhân công mở đường và tiêu diệt người cộng sản. Chúng đã biến con đường 14 trở thành “con đường máu”, là “mồ chôn” của những người tù chính trị. Công việc trên công trường làm đường rất nặng nhọc, tù nhân làm lụng quần quật, dầm mưa, dãi nắng, đầu không nón, không tấm che mưa, mỗi ngày lao công không dưới 10 tiếng đồng hồ, buổi trưa không được nghỉ ngơi, buổi tối nghỉ không đủ giấc, chân trong cùm, ăn uống kham khổ, đói khát. Vì điều kiện sống và lao động như thế nên tù nhân kiệt sức, bệnh tật nhiều, thuốc thang không có, còn bị bọn lính đánh đập tàn nhẫn. Ngoài những đánh đập thông thường hàng ngày, bọn lính còn bày ra những trò chơi man rợ để giết hại anh em tù. Do đó, số tù nhân chết ngày một nhiều. Từ tháng 12-1930 đến tháng 5-1931, chỉ trong 6 tháng làm đoạn đường dài 15 km từ Đăk Pao đi Đăk Pét đã có tới 150 người trong số 295 người tù chính trị bị chết một cách thê thảm, số còn lại chỉ là da bọc xương. Đoạn đường này được những người tù ví như địa ngục trần gian.

Tháng 6-1931 khi mùa mưa đến, thực dân Pháp đưa tù chính trị về thị xã để giam giữ và lao động khổ sai tại đó. Đồng bào ở thị xã Kon Tum đã được chứng kiến tận mắt cảnh tượng tù chính trị đi làm đường trở về. Hình ảnh những người tù như những thây ma là một tang chứng hùng hồn về tội ác của thực dân Pháp, đã tác động sâu sắc đến lòng yêu nước, yêu giống nòi của đồng bào các dân tộc Kon Tum. Cũng trong tháng 6-1931, thực dân Pháp lần lượt đưa các đoàn tù chính trị khác từ Huế và Quy Nhơn lên, nâng tổng số tù nhân bị giam tại Ngục Kon Tum là 200 người.

Đứng trước cái chết đang đón đợi phía trước, những người tù chính trị đã phải tìm cho mình một con đường sống. Dù họ biết rằng, con đường sống đó cũng có thể phải trả giá bằng chính sự sống của bản thân cũng như của anh em đồng chí. Song họ suy nghĩ và hy vọng: “Sau khi ta chết rồi, họa may mấy trăm anh em mới còn phương sống” như lời một người tù chính trị tâm sự trước khi bước vào cuộc đấu tranh. Trong cảnh tù ngục, những người tù chính trị đã chuẩn bị cho mình những phương thức đấu tranh mà mình có thể thực hiện được. Họ đã thành lập ban lãnh đạo nhà lao, đội cảm tử và quyết tử, tích cực hoạt động, tuyên truyền, vận động, giác ngộ Nhân dân và binh lính, làm cho họ hiểu rõ hơn, đúng hơn về người tù chính trị. Được chứng kiến tận mắt về sự thật đối xử của chính quyền thực dân đối với tù chính trị và sự tích cực tuyên truyền của Chi bộ binh, Chi bộ đường phố; quần chúng nhân dân thị xã Kon Tum vô cùng khâm phục tinh thần bất khuất anh dũng của tù chính trị-những người yêu nước chân chính. Tình cảm của đồng bào với tù nhân cộng sản trở nên thân thiết. Thái độ và hành động đối xử của binh lính người Việt đối với tù nhân cũng khác hơn trước. Một số anh em lính bắt đầu chống lại bọn chỉ huy, họ đứng về phía tù nhân khi bọn chỉ huy bắt tù nhân đi làm ngày chủ nhật hoặc đàn áp người tù.

Đầu tháng 7-1931, sau khi Chi bộ binh ở nhà lao bị khủng bố (Lao trong), địch đưa đồng chí Ngô Đức Đệ (người sáng lập chi bộ đảng đầu tiên ở Kon Tum) ra giam giữ ở Lao ngoài. Ở Lao ngoài, số tù chính trị cũ và mới gặp nhau, được đồng chí Ngô Đức Đệ thông báo tình hình tù nhân làm đường, sự đàn áp, đày đọa tù nhân của địch, tình hình của chi bộ binh, chi bộ đường phố… nên họ đã nhanh chóng hình thành ban lãnh đạo chung với sự phân công cụ thể cho từng thành viên như một số đồng chí làm nhiệm vụ xây dựng nội bộ về tư tưởng và tổ chức, một số đồng chí lo việc nghiên cứu kế hoạch đấu tranh, đề ra yêu sách, tuyên ngôn, soạn các bài tuyên truyền bằng tiếng phổ thông, tiếng Pháp, tiếng Ba Na, tiếng Gia Rai. Ban lãnh đạo chung của tù nhân nhất trí hạ quyết tâm: “Muốn sống, không có con đường nào khác ngoài con đường đấu tranh mà Đảng đề ra. Muốn bảo đảm cuộc đấu tranh thắng lợi, nhất định chúng ta phải làm cho anh em đoàn kết nhất trí, có quyết tâm cao. Phải đấu tranh kiên quyết, bền bỉ, có kế hoạch chu đáo[1]. Mục tiêu đấu tranh là đòi thực dân Pháp bãi bỏ chế độ giết người dã man đối với tù chính trị.

Có mục tiêu, có tổ chức, kinh nghiệm đấu tranh của một tập thể tù nhân khoảng 200 người giờ đây đã dày dạn hơn, khôn khéo hơn. Nhiều cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau đã liên tục nổ ra, trong đó có cuộc đấu tranh lưu huyết phản đối việc bắt tù chính trị đi làm con đường 14 lần thứ 2 tại Đăk Pét.

  1. Diễn biến

Đầu tháng 12/1931, Ban lãnh đạo chung của tù nhân biết được tin địch chuẩn bị đưa tù nhân đi làm đường ở Đăk Pét. Tất cả tù nhân đã sẵn sàng đối phó. Sáng ngày 12-12-1931, với âm mưu định sẵn, bọn cầm quyền phân tán anh em tù đi làm các nơi nhằm xé lẻ đội ngũ tù, còn khoảng 40 người, chúng ra lệnh quay về phòng lấy quần áo để đi Đăk Pét. Trong số đó, có bốn đồng chí là thành viên Ban lãnh đạo nhà tù (Đặng Thái Thuyến, Trương Quang Trọng, Nguyễn Huy Lung, Hồ Độ) và cả 40 tù nhân này đều là thành viên của đội cảm tử, quyết tử. Do biết trước việc địch chuẩn bị đưa tù đi làm đường lần thứ 2 tại Đăk Pét, anh em tù ở lao ngoài đã chuẩn bị để đối phó. Cuộc đấu tranh bắt đầu. Tất cả 40 tù nhân chạy vào phòng giam khóa chặt cửa lại và đồng thanh hô các khẩu hiệu “Nhất định không đi Đăk Pét”, “Phản đối đi Đăk Pét”, “Phải bãi bỏ chế độ bắt tù chính trị đi làm đường”,Bãi bỏ chế độ đánh đập, bắt giết tù”… Đồng chí Nguyễn Huy Lung (số tù 299) thay mặt anh em trả lời tên đội Mulê (Moulet) lý do không đi Đăk Pét: “Lần trước bị hãm hại một cách rất tàn ác, anh em chúng tôi chết hai phần ba. Bây giờ bắt chúng tôi đi nữa cho chết hết hay sao ?”.

Sau đó, công sứ, giám binh, nhiều binh lính kéo đến bao vây xung quanh nhà lao. Trong lao, anh em vẫn hô vang các khẩu hiệu và xiết chặt hàng ngũ, đứng sắp hàng trước cửa lao, dùng gậy gộc đã chuẩn bị trước chống lại, không cho bọn địch vào lao để bắt từng người đưa đi. Theo lệnh công sứ, viên đội Mulê cầm súng, tiến lại cửa nhà lao gọi: “Thằng tù số 299 đâu?”. Anh em trong nhà lao đồng thanh trả lời: “Không có tù số 299! Đả đảo đi Đăk Pét”. Nhưng đúng lúc ấy, đồng chí Trương Quang Trọng (số tù 303) đang đứng ở hàng đầu đã phanh áo, chỉ vào ngực, nói bằng tiếng Pháp “Le voici” (nó ở đây). Tên Mulê lập tức bóp cò, đồng chí Trọng anh dũng hi sinh.

Hành động anh dũng chết thay cho đồng đội của đồng chí Trương Quang Trọng và tội ác giết người không gớm tay của bọn thực dân Pháp đã thôi thúc anh em đấu tranh quyết liệt hơn, sẵn sàng đương đầu với súng đạn. Bọn địch đã điên cuồng nã đạn xối xả vào các anh em tù. Cuộc đấu tranh của anh em tù chính trị đã bị kẻ thù tàn sát đẫm máu làm 8 người chết, 8 người bị thương.

Sáng ngày 13-12-1931, số anh em tù còn lại đã tổ chức lễ truy điệu cho các đồng chí, đồng đội hi sinh. Trong niềm đau thương vô hạn, nỗi uất hận khôn lường, tù nhân càng siết chặt đội ngũ, đoàn kết chặt chẽ, đấu tranh đến cùng. Sau lễ truy điệu, anh em tù đã có ngay bài nói chuyện tuyên truyền cho binh lính ngay tại sân nhà lao.

Chiều ngày 13-12-1931, bản tuyên ngôn chính trị và yêu sách của tù nhân được chuẩn bị và dịch ra tiếng Pháp, tiếng dân tộc địa phương. Bản tuyên ngôn đã vạch trần chế độ đối xử tàn bạo với tù chính trị của thực dân Pháp, đòi nhà cầm quyền Pháp phải chịu trách nhiệm về sự tàn bạo này. Yêu sách của anh em tù nhân có sáu điểm:

– Một là, phải thừa nhận và áp dụng chế độ tù ở Kon Tum cũng như các nơi khác;

– Hai là, bãi bỏ ngay chế độ hành dịch khổ sai;

– Ba là, bỏ hẳn chế độ đánh đập, bắn giết, còng cùm và các hình phạt ác nghiệt đối với tù nhân;

– Bốn là, cải thiện chế độ ăn uống của tù nhân;

– Năm là, lúc tù nhân đau ốm phải được đưa đi bệnh viện, được nghỉ ngơi và chăm sóc;

– Sáu là, tù nhân được đọc sách báo, viết thư về gia đình một tháng một lần, được nhận thư từ, ngân phiếu, bưu kiện của gia đình gửi tới, được tiếp người nhà đến thăm.

Cuộc đấu tranh của anh em tù ngày càng sôi sục. Tù chính trị đấu tranh tuyệt thực để phản đối đi làm đường, phản đối bắn giết. Sáng ngày 16-12-1931, bọn thực dân Pháp một lần nữa nã súng và lựu đạn để đàn áp cuộc đấu tranh tuyệt thực làm cho 7 đồng chí hy sinh và 8 đồng chí bị thương. Cả hai đợt đấu tranh trực diện, thực dân Pháp đã giết hại 15 đồng chí và làm bị thương 16 đồng chí.

  1. Kết quả

Sau cuộc đấu tranh này, có 50 người là tù chính trị có án nhẹ và một số tù thường phạm được thả về. Tuy cuộc đấu tranh bị tàn sát đẫm máu, nhưng với tinh thần anh dũng hy sinh, ý chí quật cường cách mạng của các chiến sĩ cộng sản, buộc nhà cầm quyền Pháp phải nhượng bộ từng bước như: Thay đổi chế độ lao dịch của tù, bỏ chế độ đánh đập tù nhân, người tù ốm đau được nghỉ và có thuốc men. Tháng 12-1932, địch bỏ hẳn việc đưa tù chính trị đi làm đường 14. Tháng 4-1934, thực dân Pháp phải bỏ nhà đày Kon Tum và đưa tất cả số tù chính trị còn lại vào nhà đày Buôn Ma Thuột.

Cuộc đấu tranh đã gây được tiếng vang lớn đối với dư luận thế giới về quyền tự do công lý và nhân phẩm con người; tạo cho dư luận trong nước và thế giới biết rõ hơn về chính sách cai trị lao tù của Pháp ở Đông Dương; đã lật tẩy được bộ mặt đê hèn với sự giả danh của ngọn cờ “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” của bọn thực dân xâm lược.

Cuộc đấu tranh Lưu huyết đã thể hiện tinh thần quyết tâm sắt đá, là mệnh lệnh thiêng liêng của trái tim, khối óc của các chiến sĩ cộng sản trước vận mệnh sống còn của đất nước, của dân tộc. Tuy cuộc đấu tranh bị bọn thực dân tàn sát đẫm máu, nhưng kết quả mang lại rất to lớn, đã buộc địch phải thay đổi chế độ cai trị hà khắc và chấp nhận nhượng bộ theo yêu sách của anh em tù chính trị đưa ra. Và nhất là từ bỏ việc xây dựng con đường 14, đóng cửa và giải tán bộ máy nhà Ngục Kon Tum-lò giết người cộng sản vào năm 1934… Điều này đã chứng minh sự thừa nhận thất bại của thực dân Pháp trước tinh thần đấu tranh quyết tử của tù chính trị và Nhân dân các dân tộc nơi đây.

III. Ý NGHĨA CỦA CUỘC ĐẤU TRANH LƯU HUYẾT TẠI NGỤC KON TUM

Cuộc đấu tranh Lưu huyết tại Ngục Kon Tum là một sự kiện lớn, gây chấn động đối với thực dân Pháp ở ngay tại Kon Tum và toàn cõi Đông Dương, khiến cho chúng phải thay đổi chế độ đối xử với tù chính trị ở Đông Dương. Cuộc đấu tranh này đã có tiếng vang lớn trong dư luận thế giới về tự do công lý và nhân phẩm con người, làm cho thế giới biết rõ hơn về chính sách cai trị cũng như chính sách lao tù của thực dân Pháp ở Kon Tum nói riêng và trên toàn cõi Đông Dương nói chung.

Cuộc đấu tranh không cân sức giữa những người tù tay bị xiềng xích, gông cùm với kẻ địch có trong tay thừa súng đạn; ý chí kiên cường, tinh thần đấu tranh anh dũng vì độc lập, tự do và hình ảnh các chiến sĩ ngã xuống để giữ gìn khí tiết người cộng sản đã tác động sâu sắc đến đồng bào các dân tộc Kon Tum, đến binh lính, công chức trong hàng ngũ địch. Nhân dân Kon Tum hiểu rõ hơn về chế độ lao tù, về những người cộng sản và về Đảng, nên quyết tâm đi theo Đảng để giành độc lập, tự do. Nhiều binh lính trong hàng ngũ địch đã giác ngộ theo cách mạng.

Cái chết “đỏ” của 15 anh em tù chính trị trong nhà lao Kon Tum là bản án tố cáo bộ mặt dã man tàn bạo của thực dân Pháp. Tuy chưa bỏ dã tâm giết hại tù chính trị cộng sản nhưng việc giải thể nhà đày Kon Tum là sự thừa nhận thất bại của Pháp trước tinh thần đấu tranh quyết tử của tù chính trị và Nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum.

Những giọt máu hồng và nước mắt của những người chiến sĩ cộng sản kiên trung đã ươm mầm cho những hạt giống mới và phong trào cách mạng Kon Tum; gieo mầm lý tưởng cách mạng trong đông đảo quần chúng Nhân dân Kon Tum; thúc đẩy ý chí quyết tâm đứng lên lật đổ đế quốc thực dân cùng bè lũ phong kiến tay sai.

90 năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh những người tù chính trị đã ngã xuống vì độc lập tự do cho đất nước, vì lý tưởng của Đảng đã đi vào lịch sử, tạo nên một hình ảnh Nhà lao Kon Tum kiên cường, bất khuất, một biểu tượng về lòng yêu nước, một tinh thần quả cảm, kiên trung. Các đồng chí đã tô thắm thêm truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng của quê hương Kon Tum anh hùng. Tấm gương anh dũng hy sinh của các chiến sĩ cách mạng sẽ mãi là bản tráng ca bi hùng, đã, đang và luôn sống mãi trong trái tim người dân Kon Tum và cả dân tộc Việt Nam, trong lịch sử, hiện tại và tương lai.

Với truyền thống kiên cường, bất khuất được hun đúc từ trong quá trình xây dựng và bảo vệ vùng đất của cha ông, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Nhân dân các dân tộc Kon Tum đã và đang phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo, tập trung xây dựng tỉnh nhà ổn định, ngày càng phát triển nhanh và bền vững. Tự hào với thành quả to lớn, với thế và lực của tỉnh trong những chặng đường lịch sử đã qua, toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân các dân tộc trong tỉnh quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định, phát triển; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020-2025 đã đề ra./.

 

Nguồn: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum.

 

[1] Theo Hồi ký của đồng chí Ngô Đức Đệ.